Chào mừng kỷ niệm 10 thành lập TP. Móng Cái

Di tích nghệ thuật Chùa Xuân Lan (Di tích cấp Quốc gia - Quyết định số: 02/1999./QĐ-BVHTT ngày26/01/ 1999)

Chùa nằm tọa lạc tại thôn Trung, xã Hải Xuân, thành phố Móng Cái, chùa Xuân Lan là một trong những công trình tôn giáo, tín ngưỡng lâu đời của tỉnh Quảng Ninh đã được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là di tích nghệ thuật cấp Quốc gia năm 1999

      Chùa Xuân Lan, được ra đời vào cuối thời Hậu Lê – Đầu thời Tây Sơn (T.kỷ XVIII); Gắn với bối cảnh lịch sử: khoảng những năm đầu Công nguyên Phật giáo truyền vào Việt Nam và phát triển rộng khắp vào thời Bắc thuộc. Đến thời Lý – Trần, đạo phật phát triển đạt tới mức cực thịnh; Sang thời Lê Sơ, Nhà nước tuyên bố lấy Nho giáo làm Quốc giáo, Phật giáo dần dần bị suy thoái. Đầu thế kỷ XVIII, vua Quang Trung đã quan tâm, cho chấn hưng Đạo Phật, cất các chùa lớn đẹp, chọn các tăng nhân có học thức và đạo đức trông coi chùa. Chính vì thế, trong thời gian này có rất nhiều chùa chiền với quy mô và kiến trúc đồ sộ đã được xây dựng, trong đó có di tích Chùa Xuân Lan

Cổng tam quan di tích chùa Xuân Lan (Được xây dựng năm 2010)

      Chùa Xuân Lan còn có tên gọi khác là chùa Đá (Do chùa được xây dựng chủ yếu bằng các cấu kiện đá tự nhiên, nguyên khối lấy từ núi (nay có tên gọi núi Tổ chim – phường Hải Hòa; cách Chùa khoảng 8Km về hướng Đông Bắc) và được đục đẽo hết sức tinh xảo (Hiện nay tại núi Tổ Sơn còn lại dấu tích về việc khai thác đá đưa về xây dựng chùa).Theo Hồ sơ khoa học xếp hạng di tích, Chùa có tên chữ là “Linh Quang Cổ Tự”- Người dân thường gọi là chùa Xuân Lan (Lấy theo tên của làng: Làng Xuân Lạn), mang ý nghĩa là sự sáng lạn của mùa xuân; Tên gọi chùa Xuân Lan được khẳng định trong danh mục xếp hạng di tích cấp quốc gia;

      Nhìn tổng thể, chùa Xuân Lan được xây dựng theo hướng Nam, trên một vị trí đất cao với tổng diện tích khuôn viên là 1.500m2. Phía trước chùa có hồ nước hình bán nguyệt. Theo tục truyền của nhân dân địa phương: Vị trí của Chùa nằm trên trán con rồng và mắt rồng chính là hồ nước phía trước cửa chùa. Theo quan niệm dân gian, nước là khởi đầu của mọi nguồn hạnh phúc, nước thường ở dưới thấp mang yếu tố âm, ngôi chùa ở trên cao được coi như yếu tố dương. Cả hợp thể tạo thành một cặp âm dương đối đãi, biểu tượng cho muôn loài sinh sôi, phát triển. Thế đất cao ráo cũng có nghĩa là đức Phật Thích Ca nghe thấu được lời tấu bày của chúng sinh mà cứu khổ, cứu nạn. Chính vì thế, từ nhiều đời nay, ngôi chùa đã đi sâu vào tiềm thức người dân, coi đây là một nơi rất linh thiêng và gắn bó, nơi gửi gắm mọi ước nguyện và mọi ước nguyện của người dân đều được thấu đáp.

Nhà Tổ chùa Xuân Lan (Được tu bổ, tôn tạo  năm 2006)

      Chùa Xuân Lan gồm các hạng mục chính là Nhà Tổ, Nhà Mẫu, Nhà Giảng, Nhà Khách và Tam quan. Công trình Nhà tổ có bố cục mặt bằng hình chữ “Đinh- J”; Tòa tiền đường gồm 5 gian bít đốc, nối liền với hậu cung 3 gian, 2 chái tạo thành, được xây dựng chủ yếu bằng các cấu kiện đá xanh tự nhiên; được các thợ chạm có tay nghề đục đẽo tạo dựng một cách công phu-  tạo đường nét chạm khắc hết sức tinh xảo, các mộng đá và cấu kiện gỗ ghép vào nhau rất khít, tạo nên thế vững chãi cho ngôi chùa. Ngoài nghệ thuật kiến trúc đá, tại chùa Xuân Lan còn lưu giữ được những mảng chạm khắc gỗ có giá trị. Sự kết hợp khéo léo giữa hai chất liệu gỗ và đá đã tạo nên sự vững bền cho bộ khung chịu lực. Đây được đánh giá là một thành tựu trong lĩnh vực xây dựng thời bấy giờ.

      Bên cạnh nét độc đáo về kiến trúc, chùa Xuân Lan hiện nay vẫn còn lưu giữ được một hệ thống tượng có hàng trăm năm tuổi. Hình dáng và cách bài trí tượng phật tại đây mang đậm nét văn hóa thuần Việt. Trong đó, tiêu biểu nhất là một số bức tượng như: tượng Thích Ca, hai pho tượng Tam Thế (Vị Lai và Quá Khứ), bộ tượng Di Đà Tam Tôn, tượng A Di Đà phát quang…

Tượng phật chùa Xuân Lan

      Bên cạnh thờ Phật, tại đây còn thờ Thần Đá. Không biết từ bao giờ, nhân dân trong làng vẫn truyền tai nhau về câu chuyện: “Ngày xửa, ngày xưa lâu lắm rồi, lũ trẻ trâu trong làng thường dắt trâu sang bên kia bờ sông Ka Long để chăn. Một ngày đẹp trời, như thường lệ 20 đứa trẻ dắt trâu sang bờ bên kia để chăn. Đến buổi chiều, khi đàn trâu và lũ trẻ đang trên đường trở về, khi đi đến giữa sông thì trời  bỗng nổi con giông, sấm chớp đùng đùng. Bọn trẻ sợ hãi vội cầu nguyện đến thần linh. Bỗng dưng, như có người đưa, 20 đứa trẻ bị nước đẩy, trôi vào bờ. Khi trời quang, mây tạnh, giữa sông có một tảng đá nổi lên. Lũ trẻ cho là thần đá đã hiển linh để cứu chúng nên đã hè nhau khiêng về chùa Xuân Lan để thờ”. Từ đó đến nay, tảng đá vẫn được đặt trong chùa và thờ phụng như một vật thờ rất linh thiêng.

      Với những người dân địa phương, từ rất lâu, chùa Xuân Lan đã trở thành nơi sinh hoạt văn hóa tâm linh – rất linh thiêng. Mỗi người đến đây để tìm cho mình sự bình yên, thanh thản, để cầu mong sự che trở, phù hộ của các vị thần linh. Ngoài những ngày rằm và mùng một hàng tháng, tại chùa Xuân Lan thường xuyên tổ chức các hoạt động lễ hội, thu hút được đông đảo phật tử và du khách tham gia. Trong đó, được tổ chức quy mô nhất là lễ Phật Đản và lễ Vu Lan.

     Ngoài những giá trị to lớn về kiến trúc và văn hóa, chùa Xuân Lan còn là một di tích có giá trị lịch sử. Trong các cuộc kháng chiến (từ thời chống Pháp), chùa Xuân Lan  là nơi hội tụ các tầng lớp yêu nước và là nơi diễn ra nhiều sự kiện chính trị quan trọng của địa phương. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chùa Xuân Lan là nơi nuôi giấu cán bộ cách mạng và cũng là nơi trú quân của một Tiểu đoàn Đệ tứ chiến khu Đông Triều do Đ/c Nguyễn Khuyến chỉ huy. Sau năm 1945, dưới sự truy sát gắt gao của Thực dân Pháp và bọn địa chủ cường hào trong vùng, ngôi chùa vẫn là nơi hoạt động của các Phật tử yêu nước, nơi quy tụ của phong trào yêu nước trong vùng. Năm 1946, lá cờ Tổ quốc đã được ông Nguyễn Văn Sáu (Thôn Hồ Nam, xã Hải Xuân) kéo lên ngay trên nóc chùa. Cùng năm này, tại chùa Xuân Lan phật tử và nhân dân sống quanh khu vực đã tổ chức lễ tế cờ để diệt quân Pháp và bè lũ tay sai. Trong cuộc khánh chiến chống Mỹ cứu nước, Chùa là nơi đưa tiễn hàng ngàn con em địa phương lên đường nhập ngũ, tham gia chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc.

      Nằm sát biên giới với Trung Quốc, quốc gia có một nền Phật giáo phát triển lâu đời nhưng chùa Xuân Lan vẫn mang nét đặc trưng của Phật giáo thuần Việt; Cùng với đình Trà Cổ, chùa Nam Thọ, đền Xã Tắc đã tạo thành những “cột mốc văn hóa” vững chắc nơi địa đầu biên cương của Tổ quốc./.

Tin cùng chuyên mục

Đình Trà Cổ (Di tích cấp Quốc gia - Quyết định số: 15-VH/QĐ  ngày13/3/1974)

Đình Trà Cổ (Di tích cấp Quốc gia - Quyết định số: 15-VH/QĐ ngày13/3/1974)


Di tích lịch sử đồi Trần Phú (Di tích cấp Tỉnh - Quyết định số: 2339/QĐ-UBND tỉnh Quảng Ninh ngày17/9/22012)

Di tích lịch sử đồi Trần Phú (Di tích cấp Tỉnh - Quyết định số: 2339/QĐ-UBND tỉnh Quảng Ninh ngày17/9/22012)


Di tích lịch sử đình Tràng Vỹ ((Di tích cấp Tỉnh - Quyết định số: 2821./QĐ-UBND tỉnh Quảng Ninh ngày 6/9/2011)	)

Di tích lịch sử đình Tràng Vỹ ((Di tích cấp Tỉnh - Quyết định số: 2821./QĐ-UBND tỉnh Quảng Ninh ngày 6/9/2011) )


Đồn biên phòng 209 - Pò Hèn (Di tích cấp Tỉnh - Quyết định số: 178/QĐ-UBND tỉnh Quảng Ninh ngày 23/1/2014)

Đồn biên phòng 209 - Pò Hèn (Di tích cấp Tỉnh - Quyết định số: 178/QĐ-UBND tỉnh Quảng Ninh ngày 23/1/2014)


Di tích nghệ thuật chùa Nam Thọ (Di tích cấp Quốc gia - Quyết định số: 02./QĐ-VHTT  ngày26/1/1999)

Di tích nghệ thuật chùa Nam Thọ (Di tích cấp Quốc gia - Quyết định số: 02./QĐ-VHTT ngày26/1/1999)


Đền Xã Tắc (Di tích cấp Tỉnh - Quyết định số: 2332/QĐ-UBND tỉnh Quảng Ninh ngày18/7/2005)

Đền Xã Tắc (Di tích cấp Tỉnh - Quyết định số: 2332/QĐ-UBND tỉnh Quảng Ninh ngày18/7/2005)


Đình Vạn Ninh (Di tích cấp Tỉnh - Quyết định số: 2823/QĐ-UBND tỉnh Quảng Ninh ngày 6/9/2011)

Đình Vạn Ninh (Di tích cấp Tỉnh - Quyết định số: 2823/QĐ-UBND tỉnh Quảng Ninh ngày 6/9/2011)


Đình Bầu (Di tích cấp Tỉnh - Quyết định số 2070/QĐ-UBND tỉnh Quảng Ninh ngày 20/8/2012)

Đình Bầu (Di tích cấp Tỉnh - Quyết định số 2070/QĐ-UBND tỉnh Quảng Ninh ngày 20/8/2012)